Vải, nhãn Việt được phép xuất vào Mỹ

Bộ Nông nghiệp Mỹ vừa chính thức cho phép trái vải và nhãn Việt Nam xuất khẩu sang nước này, sau thanh long và chôm chôm.

Ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, với tin vui trên, để giúp nông dân canh tác đúng quy trình kỹ thuật, đáp ứng được yêu cầu của nước nhập khẩu, nhất là thị trường khó tính như Mỹ, cục sẽ hỗ trợ và hướng dẫn cho các địa phương, nông dân các vùng trồng chuyên canh những sản phẩm trái cây này tối đa về mặt kỹ thuật, chăm sóc như: chiếu xạ, quy cách đóng gói...

Trước khi chính thức xuất khẩu 2 loại trái cây nói trên, Cục Bảo vệ thực vật sẽ phối hợp với kiểm dịch viên Mỹ tại Việt Nam xây dựng danh sách mã vùng trồng vải, nhãn; các nhà máy phải xây dựng xong bản đồ liều lượng... Trái cây vào Mỹ phải đáp ứng được một số tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm. Cụ thể, ngoài yêu cầu phải được trồng trên vùng đất được đăng ký, mỗi lô hàng phải kèm theo chứng chỉ của Cục Bảo vệ thực vật xác định sản phẩm phù hợp với quy định, khi xuất phải được chiếu xạ để loại bỏ vi khuẩn dịch hại…

 

1.jpg
Nhãn, vải Việt Nam có cơ hội vào thị trường Mỹ. Ảnh: Quý Đoàn.


Theo TS Võ Mai, Phó Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu không còn đơn thuần là thời cơ trước mắt mà là việc phải làm để tồn tại và phát triển. Nếu không làm thì sẽ “chết”. Ngay cả ở thị trường nội địa, sắp tới, trái cây và nông sản Thái Lan sẽ tràn vào thông qua kênh phân phối mà Tập đoàn BJC vừa mua lại của Metro. Hàng hóa từ các nước trong khu vực, các thị trường lớn cũng sẽ vào Việt Nam nhiều hơn thông qua các hiệp định thương mại. Không thể chần chừ thêm nữa, dứt khoát phải thực hiện tốt an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo đảm chất lượng tốt, mẫu mã đẹp để cạnh tranh với hàng hóa của các nước khác.

Trái cây, nông sản muốn vào Mỹ phải đáp ứng tiêu chuẩn VietGAP, vào châu Âu phải đạt tiêu chuẩn GlobalGAP. Hiện ở Việt Nam, diện tích cây ăn trái đạt chứng nhận VietGAP chưa nhiều và nông dân chưa có nhận thức đầy đủ về an toàn vệ sinh thực phẩm. PGS-TS Nguyễn Minh Châu, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, cho rằng: “Nên có sự liên kết phối hợp giữa nông dân với nhau, nông dân với doanh nghiệp. Nhà nước giữ vai trò quản lý, ngoài việc hỗ trợ nông dân làm VietGAP, GlobalGAP cần có định hướng cho doanh nghiệp; không để xuất khẩu cạnh tranh thiếu lành mạnh, giành giật thị trường, khách hàng của nhau bằng cách giảm giá, giảm chất lượng sản phẩm tiếp diễn. Song song đó, phải có sự phối hợp chặt chẽ của 4 “nhà”: nhà quản lý, nhà khoa học, nhà kinh doanh và nhà nông cùng nâng chất lượng trái cây, tăng khả năng cạnh tranh”.

Đồng quan điểm, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương - ông Trần Thanh Hải - cho rằng ngành chế biến nông sản sau thu hoạch của Việt Nam chưa theo kịp thế giới, giá trị thu về quá thấp so với tiềm năng. Hơn nữa, người trực tiếp làm ra sản phẩm nông sản lại thu được quá ít giá trị mà phần nhiều hơn rơi vào tay các doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp phân phối của mạng lưới bán lẻ ở nước ngoài. “Giải pháp tháo gỡ theo tôi ngoài thúc đẩy công nghiệp chế biến thì quan trọng nhất là sự phối hợp, hợp tác giữa nhà nước và doanh nghiệp trong tìm kiếm thị trường. Trong đó, nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại, đưa ra chính sách nhưng doanh nghiệp cũng phải chủ động đề xuất, tham gia phản biện chính sách, tham gia tích cực quá trình đàm phán, tham vấn để nhà nước biết nhu cầu của doanh nghiệp thế nào...”, ông Hải nói.

Theo ông Phạm Đồng Quảng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc Mỹ mở cửa cho nhãn và vải Việt Nam mới chỉ là điều kiện cần, còn sản phẩm chúng ta có thực sự vào được Mỹ hay không thì vai trò đầu tàu của các doanh nghiệp cần phải được phát huy nhiều hơn nữa. Gia tăng quảng bá hình ảnh, tìm kiếm đối tác mới là điều quan trọng. Khi có thị trường rồi, lúc đó sẽ liên kết với nông dân và cơ quan quản lý nhà nước, cùng nhau dốc sức để làm ra sản phẩm đạt yêu cầu của đối tác.

Theo số liệu mới nhất của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu rau quả trong tháng 8 ước đạt 110 triệu USD. Tính chung 8 tháng đầu năm ước đạt 961 triệu USD, tăng 34,5% so với cùng kỳ năm 2013. Ngành rau quả xuất siêu 599 triệu USD trong 8 tháng. Còn theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, trong 7 tháng đầu năm, nhìn chung xuất khẩu rau quả vào các thị trường đều tăng. Trung Quốc vẫn đang là thị trường xuất khẩu chủ lực với hơn 258 triệu USD, 53,72% so với cùng kỳ năm 2013; kế đến là các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Nga, Hà Lan, Thái Lan, Đài Loan, Malaysia, Singapore. Mỹ đang là thị trường tiêu thụ rau quả lớn thứ tư của Việt Nam với tổng kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đạt hơn 30,8 triệu USD, tăng 9,54% so với cùng kỳ.

Việt Nam đã xuất khẩu thanh long vào Mỹ từ năm 2008, đến năm 2011, trái chôm chôm tiếp tục xâm nhập thị trường này, năm 2014 đến lượt trái vải và nhãn. PGS TS Phạm Tất Thắng, nghiên cứu viên cao cấp Viện Thương mại, Bộ Công Thương cho biết trong tương lai gần, trái xoài, mãng cầu và một số loại khác sẽ tiếp tục được xúc tiến đàm phán xâm nhập Mỹ.

Cũng theo PGS TS Phạm Tất Thắng, Bộ Khoa học và Công nghệ đã làm việc với phía Nhật Bản và họ đã đồng ý chuyển giao công nghệ cho chúng ta bảo quản được trái vải 3 tháng trở lên. Bộ đang tiếp tục hoàn tất những thủ tục cần thiết để có thể chính thức tiếp cận công nghệ. Ông cho rằng tín hiệu Mỹ mở cửa thị trường cho một số nông sản Việt Nam sẽ càng có giá trị hơn khi Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang được đàm phán và đạt được những tiến bộ nhất định. Nếu ký kết thành công TPP thì trái cây Việt Nam vào thị trường Mỹ sẽ rất thuận lợi bởi những ưu đãi của hiệp định này và lợi thế thị trường Mỹ rất rộng lớn.

Là một trong những doanh nghiệp dẫn đầu về xuất khẩu trái thanh long, thời gian qua, Công ty TNHH thanh long Hoàng Hậu (Bình Thuận) đã tăng xuất khẩu thanh long sang những thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật… để giảm dần lệ thuộc vào thị trường chính là Trung Quốc. Ông Trần Ngọc Hiệp, giám đốc công ty, cho biết với đơn hàng xuất đi Trung Quốc và các thị trường dễ tính, công ty thu mua từ các hộ nông dân. Thanh long xuất đi châu Âu, Nhật đòi hỏi gắt gao về chất lượng, vệ sinh dịch tễ… nên bắt buộc công ty có vùng nguyên liệu riêng cho những thị trường này.

Thực tế trên cũng diễn ra với nhiều doanh nghiệp xuất khẩu nông sản khác. Sở dĩ doanh nghiệp phải tự tổ chức sản xuất thay vì chuyển giao quy trình kỹ thuật, hướng dẫn nông dân sản xuất sạch rồi thu mua là do ý thức trách nhiệm của nông dân còn thấp, không tuân thủ đúng quy trình, điều kiện sản xuất nên không bảo đảm chất lượng đầu ra. Thói quen này của nông dân một phần bắt nguồn từ sự dễ dãi của thị trường, đặc biệt là từ các nhà nhập khẩu Trung Quốc.

 

Theo Vnexpress

Thông tin liên quan

Hỗ trợ trực tuyến
sky icon

Ms Phương Ly: 0972 594 091

Thông kê truy cập

Khách online: 8

Hôm nay: 11

Số lượt truy cập: 521687